Archive for the ‘Hoa phong lan Sapa’ Category

ĐỊA LAN KIẾM TRẦN MỘNG SAPA – TẾT 2013


Địa lan kiếm Sapa 2013

Địa lan kiếm Sapa 2013

Địa lan kiếm chơi tết quý tỵ

Địa lan kiếm chơi tết quý tỵ

Địa lan kiếm - triển lãm Sapa

Địa lan trần mộng Sapa

Lan kiếm trần mộng Sapa

Lan kiếm trần mộng Sapa

Lan kiếm trần mộng - Sapa Khi

Lan kiếm trần mộng – Sapa Khi

Trưng bày lan kiếm trần mộng Sapa

Trưng bày lan kiếm trần mộng Sapa

Lan kiếm trần mộng đón xuân

Lan kiếm trần mộng đón xuân 2013

Cây lan kiếm trần mộng đẹp

Cây lan kiếm trần mộng đẹp

Hoa sapa

Hoa sapa

Hoa cây cảnh Sapa - LÀo cai

Hoa cây cảnh Sapa – LÀo cai

Địa lan trần mộng

Lan trần mộng Sapa

IMG_9149

Địa lan kiếm trần mộng. LAn kiếm trần mộng.

Sapa-Lào cai-Việt nam

Sapa – Lào cai

PHONG LAN SAPA-THUỶ TIÊN MỠ GÀ


Lan Hồ điệp-cách trồng và chăm sóc


Cách trồng các loại giống Phalaenopsis (Hồ Điệp)/

Nguồn: Cây cảnh ViệtNam

Phalaenopsis Blullle, 1825 Họ phụ Vandoideae Tông Vandeae.

Lan Hồ điệp có tên khoa học là Phalaenopsis amabilis là loài lan có hoa lớn, đẹp, bền. Giống Phalaenopsis gồm 21 loài lan phát sinh, ưa nóng có ở bán đảo Mã Lai, Indônêxia, Philipin, các tỉnh phía Đông Ấn độ và Châu Úc.

Lan Hồ điệp được khám phá vào năm 1750, đầu tiên được ông Rumphius xác định dưới tên là Angraecum album. Đến năm 1753, Linné đổi lại là Epidendrum amabile và 1825, Blume, một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần nữa là Phalaenopsis amabilis Bl., và tên đó được dùng cho đến ngày nay.

Đây là giống gồm các loài có hoa lớn đẹp, cuống ngắn gom lại thành những chùm lỏng lẻo : đơn hay phân nhánh. Lá dài và cánh hoa phẳng, trải rộng, thường thì lá đài giống và gần bằng cánh hoa. Môi liên tục, có góc trục kéo dài, vì mang một điểm nhú nhỏ ở gốc, phiến bên trải rộng hay hướng lên một ít, phiến giữa trải ra nguyên vẹn hay có 2 phiến dài, hẹp và có dĩa, những bộ phận phụ có dạng thay đổi : trụ bán nguyệt dày ở bên trên, thẳng hay hơi cong.

Và vô số loài lan Hồ điệp lại đã được lai tạo. Người Tây phương cho rằng Hồ điệp là loài lan thông dụng và dễ trồng nhất cho những người mới bắt đầu chơi lan vì chúng tăng trưởng gọn chắc, dễ ra hoa, mùa hoa kéo dài, nhiều màu sắc, chịu đựng cao với ánh sáng yếu .Với vẻ đẹp khó tin, chúng là phần thưởng cho những người trồng lan kinh nghiệm. Người Việt Nam thì ngược lại, dù là nhà vườn có nhiều năm kinh nghiệm đều quan niệm rằng đây là giống khó trồng nhất trong họ lan. Quê hương của lan Hồ điệp là các nước của vùng Đông Nam á, rừng Việt Nam không có loài Phalaenopsis amabilis, chỉ có 5 loài tương tự được biết là Phaenopsis mannii, Phalaeopsis gibbosa, Phalaenopsis lobbi, Phalaenopsis fuscata và Phalaenopsis cornu-cervi. Tuy nhiên không thấy chúng được trồng phổ biến. Càn cứ vào dữ kiện trên có thể kết luận rằng, điều kiện khí hậu Việt Nam rất thuận lợi cho sự sinh trường và phát triển của lan Hồ điệp. Do đó tìm những nguyên nhân để giải thích sự thất bại của việc trồng lan Hồ điệp ở Việt Nam là điều phải suy nghĩ thận trọng. Vì đây là sơ cơ cho việc trồng thành công loài lan Hồ điệp trong tương lai.

Theo chúng tôi ở những nước phương Tây, tất cả các loài lan đều được trồng trong nhà kính, các yếu tố về khí hậu là lý tưởng, điều kiện vệ sinh được thực hiện một cách nghiêm túc, dinh dưỡng gồm những chất vô cơ không chứa những mầm gây bệnh. Trong khi ở Việt Nam, qui trình trồng các loại lan chưa được phổ cập, kiến thức hiểu biết về sinh học chưa sâu, cộng với điều kiện nóng ẩm của xứ nhiệt đới là môi trường phát triển thích hợp của vô số mầm bệnh của nấm và virut, những cơn mưa nặng hạt rơi thẳng xuống lá và đọt non. Phân hữu cơ cũng là ổ bệnh với các bào tử nấm hại đồng thời lại thiếu thốn các loại thuốc trừ rêu.

Chúng tôi hy vọng rằng, sau khi tìm hiểu và thử nghiệm; bạn sẽ đồng ý với chúng tôi về ý niệm của người phương Tây : ” Hồ điệp là loại lan dễ trồng nhất và nếu dinh dưỡng đúng mức khi trưởng thành dường như cây sẽ ra hoa quanh năm” .

7.4.1 Nhiệt độ và ẩm độ : Hồ điệp là một loại lan của vùng nhiệt đới mà sự tăng trưởng của chúng chịu ảnh hưởng của 2 mùa nắng mưa rõ rệt. Tuy nhiên Hồ điệp chỉ xuất hiện ở các vùng rừng ẩm hoặc ven suối. Không có sự biến động đáng kể

về ẩm độ giữa mùa mưa và mùa khô nơi Hồ điệp sinh sống, vì thế cây lan Hồ điệp không có mùa nghỉ, mặc dù do sự bất lợi về thời tiết trong mùa khô. Cây Hồ điệp có tăng trường chậm hơn chút ít so với mùa mưa trong điều kiện tự nhiên. Nhiệt độ lý tưởng tối thiểu từ 22ºC – 25ºC vào ban ngày và 18ºC vào ban đêm. Tuy nhiên Hồ điệp là loài lan chịu nóng hơn đa số một số loài khác, do đó nó cũng có thể tăng trưởng khá tốt ở bất cứ nơi nào có nhiệt độ cao hơn tối đa 35ºC vào ban ngày và 25ºC vào ban đêm. Điều lưu ý là nhiệt độ tối thiểu của ngày và đêm là giới hạn quan trọng của lan Hồ điệp. Theo nghiên cứu của De Vries (1953), cây Phalaellopsis schilleriana Ở Indonésia chỉ trổ hoa khi nhiệt độ ban đêm xuống dưới 21ºC. Theo kết quả báo cáo của bà Trần Thanh Vân ( 1974), 2 loài Phalaenopsis alllabỉlis và P. sehilleriana dưới một năm tuổi trổ hoa trong khí hậu dài với điều kiện nhiệt độ 20ºC vào ban ngày và 17ºC vào ban đêm.

Ẩm độ tối thiểu cần thiết là 60ºC với điều kiện ẩm độ này đất nước ta đủ thỏa mãn với những yêu cầu tốt nhất vì đây là ẩm độ của những ngày thấp nhất trong mùa khô.

Ánh sáng:

Đây là loài lan có biên độ biến thiên khá rộng về ánh sáng, khoảng 5.000-15.000 1m/m2, ánh sáng hữu hiệu cho loài này ở 30%. Vì thế với giàn che có độ che sáng 70% là thích hợp. Đây là loài lan duy nhất, chịu được ánh sáng yếu nhưng thực tế nhu cầu về ánh sáng của chúng cao hơn nhiều vì thế không nên đặt lan Hồ điệp vào chỗ quá râm mát. Ánh sáng rất cần thiết cho sự sinh trưởng và trổ hoa.

Hồ điệp với bộ lá màu xanh đậm chưa phải là một cây lý tưởng cho việc ra hoa, hơn nữa cây trồng trong điều kiện này có khả năng kháng bệnh kém. Cây lan dược đặt nơi có ánh sáng khuếch tán vừa phải với bộ lá màu xanh có ánh

nhẹ màu vàng là tốt nhất.

Ở Việt Nam, nếu cây lan Hồ điệp được trồng với 12 giờ chiếu sáng trong ngày, trong đó khoảng 1 – 2 giờ cây nhận được ánh sáng trực tiếp, cây sẽ phát triển tốt.Ít trường hợp cây Hồ điệp bị chết vì nấng, trừ trường hợp bạn dể cây lan phơi nấng trực tiếp suốt quang kỳ 12 giờ chiếu sáng, cây sẽ bị những vết bỏng do cháy lá và đây là cửa ngõ cho sự xâm nhập của nấm bệnh và virus. Tốt nhất là tạo cho Hồ điệp một ánh sáng gần như khuếch tán. Các loại tôn nhựa hoặc vải lưới ni- lông thưa 1mm được dùng với mục đích này quang kỳ 10-12 giờ chiếu sáng.

Nếu chỉ trồng với mục đích tiêu khiển có thể treo chúng ở mái hiên hoặc ban-công nhà với điều kiện ánh sáng hoàn toàn khuếch tán hoặc ánh sáng trực tiếp lên cây khoảng 2 giờ trong ngày cũng đạt được mục đích mong muốn.

Tưới nước:

Hồ điệp là loài đơn thân, không có giả hành nên không dự trữ nước, hơn nữa diện tích bốc hơi của bản lá khá lớn và chúng không có mùa nghỉ vì thế phải cung cấp cho không một lượng nước đầy đủ và thường xuyên trong suốt năm. Trong mùa mưa mỗi ngày phải tưới cho chúng 2 lần, trừ những ngày có mưa, một lần vào 9 giờ sáng, một lần vào 3 giờ chiều. Tưới như vậy sẽ đảm bảo cây khô ráo khi trời tối vì đọng nước ở nách lá suốt đêm có thể gây ra sự thối rữa. Vào mùa nắng nên tưới cho chúng 1 ngày 3 lần.

Điều kiện thoát nước là tối quan trọng. Hồ điệp không thể chịu được một độ ẩm lắng đọng nhất là ban đêm, vì rất đễ tạo điều kiện cho bệnh thối rữa phát triển. Tốt nhất cứ ba ngày ta nên pha Dithane M45, Maneb, Captan vào trong nước tưới với nồng độ 1/400 để ngừa chứng bệnh nói trên. ồ Nên nhớ, Hồ điệp là loài lan với giá thể và nước tưới có ph khác thấp (PH=5,2) vì thế phải dùng axít phôtphoric để giảm ph của nước.

Ở nước ta, vào mùa mưa Hồ điệp tăng trưởng mạnh hơn, nhưng những giọt mưa nặng hạt cũng không kém phần nguy hiểm vì thế đa số các loại Hồ điệp bị chết do những cơn mưa đầu mùa. Đây cũng là một hình thức tưới của thiên nhiên mà ta không kiểm soát được. Do đó để ngừa tình trạng trên, mái giàn che Hồ điệp nên dùng những tấm tôn nhựa xanh, như vậy sẽ loại trừ những trận mưa không cần thiết và tạo được những tia sáng khuếch tán rất lý tưởng.

Vào mùa khô, ta vẫn duy trì mức độ tưới đều đặn như trong mùa mưa, vì lúc này ẩm độ trong không khí giảm xuống rõ rệt. Do đó, sự tăng số lần tưới nhằm mục đích tạo cho cây tăng trưởng liên tục. Nếu cây có trạng thái thiếu nước, ủ rũ bạn nên chuyển cây sang vị trí khác hoặc tăng số lần tưới lên. Một lần tưới bổ sung vào giữa trưa trong mùa khô rất thích hợp cho sự phát triển của Hồ điệp.

Bón phân:

Hồ điệp cần được bón phân trong suốt năm. Phân phải được bón định kỳ và đều đặn, cứ 2 tuần 1 lần. Nếu có phân Stewart màu xanh 6-30-30 được bón vào lần thứ tự và ta tiếp tục chu kỳ suốt cả năm. Hàm lượng được dùng cho mỗi lần là 1 muỗng cà-phê cho 4 lít nước. Một số nhà trồng lan lại khuyên nên bón phân với chu kỳ ngắn hơn (I tuần/1 lần) và hàm lượng giảm đi một nửa. Theo chúng tôi, tưới loãng trong nhiều lần sự hấp thụ của rễ tốt hơn vì bản thân cây Hồ điệp không dự trữ được chất dinh dưỡng.

Ngoài việc dùng phân vô cơ, ta có thể sử dụng thêm các loại phân hữu cơ hỗn hợp với nồng độ loãng có pha thêm thuốc ngừa nấm, tưới xen kẽ với loại phân vô cơ trên (hay phân vô cơ tự pha lấy như đã trình bày ở phần 9).

Trong quá trinh sinh trưởng, nếu bạn nhận thấy bộ rễ của lan chưa hoàn thiện, bạn có thể dùng một số kích thích tố để gây sự mọc rễ như 2, 4D; ANA; nhưng tốt nhất là dùng ANA vì ít độc cho cây có thể 2 đến 3 lần trong năm với nồng độ 1 phần triệu (ppm).

Sự thông gió:

So với các loài lan khác, sự thông gió Ở lan Hồ điệp là tối cần thiết. Đây cũng là một yếu tố có liên hệ đến các bệnh thối rữa thường gặp ở loài lan này. Sự thông gió càng lớn cây càng ít bệnh vì nó giúp cây mau khô sau khi tưới. Tuy nhiên, một sự thông gió quá mạnh dễ làm cho cây mất nước và chuồn lá. Gió với tốc độ 10-15km/giờ tương đương với cấp số 3 và 4 của Beaufort là tốt nhất. Do đó tùy nơi trồng với tốc độ gió như thế nào ta phải cấu tạo giá thể cho hợp lý. Thường cách trồng Hồ điệp tương tự như một số giống của loài đơn thân như Vanda, Rl’ynchostylis, Aerides vì thế nếu gió với cấp 6 trở lên, giá thể phải bít kín để thỏa mãn số lượng nước bốc hơi quá lớn, còn ngược lại, phải thật thoáng vì nếu không giá thể là ổ xuất phát các mầm bệnh nguy hiểm.

Chậu, giá thể, cách trồng:

Một cách trồng chung nhất cho các loại đơn thân là chậu thật thoáng, càng thoáng càng tốt, có thể đến mức cực đoan chỉ dùng chậu như giá thể duy nhất, tuy nhiên chỉ áp dụng cho nơi nào điều kiện ẩm độ ổn định, sự thông gió không đổi và nhất là, tiểu khí hậu thật điều hòa. Do đó chậu phải thật sạch, không có dấu vết của bất kỳ một loài rêu nào bám trên thành chậu. Thường các nhà trồng lan dùng than, gạch, dớn làm giá thể cho Hồ điệp. Theo chúng tôi, chỉ vài cục than hoặc vài miếng ngói cong là đủ. Với cách trồng này, khi cây đã thích nghi sẽ phát triển rất mạnh trong tương lai và trong chậu hình như không có một cái rễ nào bị thối. Trong thời gian cứ 2 năm một lần ta nên thay chậu cho Hồ điệp, nếu chúng quá mau lớn có thể rút ngắn thời gian này. Biểu hiển của sự thay chậu là kích thước mát cân đối giữa cây và chậu, chậu bị bể, giá thể bị hư hao. Có thể thay chậu một cách dợn giản bằng cách đập bỏ những phần chậu cũ có rễ bám hoặc để nguyên chậu cũ vào chậu mới lớn hơn. Nếu muốn tiết kiệm chậu, ta có thể nhúng vào dung dịch hỗn hợp nước với một loại thuốc ngừa rêu.

Ví dụ Con san 20 (vài giọt trong 1 lít). chỉ trong vòng 3 phút rễ sẽ tróc ra, ta sẽ nhặt cây và trồng vào một chậu mới. Điều cần nhớ khi cây được trồng lại phải được buột thật chặt và tưới ngay bằng dung dịch BL+ANA. Sau đó để cây vào chỗ râm mát, khi cây ra rễ đặt cây vào vị trí bình thường và lúc bấy giờ mới đặt giá thể vào chậu. Bạn đừng lo lắng, việc thay chậu HỒ điệp ít khi gây ra “xốc” như Cattleya.

Cách nhân giống lan Hồ điệp:

Ngoài phương pháp gieo hạt và cấy mô không được đề cập ở. Đây đối với loài lan Hồ điệp có 3 cách nhân giống : phương pháp cơ học, phương pháp kích thích tố, và phương pháp tạo cây con trên trục phát hoa cũ.

+Phương pháp cơ học:Đ

ây là phương pháp dễ dàng nhất. Khi cây đạt một kích thước mong muốn, ta sẽ cất ngọn với một ít rễ đem trồng vào chậu mới, phần gốc còn lại sau một thời gian sẽ mọc lên vài ba chồi nữa. Nên nhớ là cây phải được cắt bằng kéo cất cành đã được khử trùng và sau đó phải trét vadơlin có trộn Zineb, sơn, hoặc vôi vào vết cắt để tránh sự nhiễm trùng và cuối cùng ta làm những động tác tiếp tục như cây thay chậu.

Một phương pháp khác được đề cập đến, tuy đơn giản nhưng có hiệu quả hơn. Dây đồng là dụng cụ duy nhất dùng cho công tác này, được buộc vào thân cây và xiết chặt, vì thế mạch dẫn nhựa bị ức chế là nguyên nhân tạo sự kích thích cây mọc chồi mới. Khi chồi nhú ra khỏi thân, ta gỡ dây đồng ra, cây con sẽ lớn dần. Tốt nhất là đợi cây con phát triển thành thục và mọc rễ ta sẽ cắt cây con lìa khỏi thân cây mẹ. Tuyệt đối đừng bao giờ cắt ngọn cây mẹ để phần gốc còn lại nuôi dưỡng cây con, vì nó sẽ mắc phải những khuyết điểm như phương pháp trên.

Với phương pháp này ta sẽ có cây con mới nhưng sức khỏe cây mẹ vẫn bình thường, cây không bị ” xốc” bảo đảm sự ra hoa trong mùa kế tiếp.

+ Phương pháp kích thích tố:

Một vài loại kích thích tố được dùng có hiệu quả rõ rệt và nhanh chóng đối với sự mọc chồi của các loài lan Hồ điệp. Với dung dịch kích thích tố pha sẵn phun sương vào lá và rễ , chỉ 1 tháng sau có dấu hiệu của sự mọc chồi. CÓ thể phun 2 lần cách nhau 5 ngày sẽ có kết quả chắc chắn. thất được dùng là Cytokinin, với nồng độ 5 phần triệu (ppm). Ở Phương pháp tạo cây con trên phát hoa cũ (Phương pháp Griesbacil).

Sau khi cây Hồ điệp trổ hoa xong, cắt bỏ phần ngọn của phát hoa chỉ chừa lại 3-4 mắt phía gốc rồi bôi Ianohn có trộn 50mg/ml acid Cinnamic + 5mg/ml 6- Benzyì amino-purine. Sau 4-8 tuần lễ, cây con sẽ mọc ở vị trí mỗi mắt và rễ sẽ tạo lập khi cây con lớn dần. Lúc này có thể cắt bỏ phát hoa và đem cây con trồng trong chậu.

Sâu bệnh và các vần đề khác:

Phải lưu ý những biểu hiện của bệnh thối rữa xuất hiện trên cấy, vì bệnh này phát triển rất nhanh chóng, có thể giết chết cây chớp nhoáng trong vài ngày. Nếu chỉ thấy trên lá xuất hiện những chỗ đậm màu ta phải phun thuốc ngay. Nếu lá và rễ đã bị thối, ta phải dùng kéo hoặc dao đã khử trùng cất xa chỗ bị bệnh, nếu cần ta có thể cắt bỏ cả nguyên lá hoặc rễ. Vết cắt phải được khử trùng bằng Vadơhn trộn Zineb và nên nhớ không dùng kéo này một lần nữa để cất một cây lan nào khác, nếu nó chưa được khử trùng trở lại. Cuối cùng ta phải cách ly cây bệnh vì chúng lan truyền rất nhanh chóng. Khi cây đã có trục phát hoa không nên thay đổi vị trí, vì như thế dễ làm nụ hoa bị rụng. Sự thiếu ẩm độ, sự tháp nắng, sử dụng phân bón quá độ cũng làm cho nụ hoa vàng ra và quan lại. Khi hoa đã tàn, ta có thể cắt trục phát hoa đến mất thứ tư (chừa lại 4 mất), các mắt này thường cho ra các chồi bên và có thể ra hoa vào mùa nấng.

Hồ điệp vẫn bị một số loài côn trùng cắn phá. Loài mạc, rệp nhỏ đến nỗi mắt thường không phân biệt được, nếu ta nhìn mặt trên lá màu xanh mướt có lốm đốm màu rỉ sét, sần sùi mặt trên và dưới – nhiều người lầm lẳn cây bị nhiễm nấm hay virut. Sâu và bệnh là 2 lãnh vực khác nhau, nếu lầm lẫn sẽ không trị liệu thích đáng. Với kính lúp có độ mạnh, ta sẽ thấy được những con côn trùng màu hơi đỏ, nhỏ xíu. Ngoài ra một loài rệp đốm và vảy u với kích thước lớn hơn cũng gây ra một tác hại đáng kể. Dùng Serpa với nồng độ nửa muỗng canh cho 4 lít nước, kết quả sẽ chắc chắn.

Tưới nước trà loãng cho lan Hồ điệp hàng ngày, ngoài tác động kích thích vì nó có chất cafein, nó còn có tác dụng để diệt những mầm khuẩn bệnh do chất tanin trong nước trà .

Lan hồ điệp rừng Sapa

ĐỊA LAN KIẾM TRẦN MỘNG SAPA-LÀO CAI


Đạ lan kiếm

Địa lan kiếm trần mộng Sapa

Địa lan kiếm Sapa chơi tết

Chậu địa lan kiếm trong nhà chơi tết

Địa lan trần mộng 2013:
Địa Lan Kiếm Trần Mộng
Hội Lan Hà Nội
Người Á Đông có truyền thống văn hoá hàng ngàn năm, nuôi trồng và thưởng ngoạn Địa Lan Kiếm (Terrestrial Cymdibium).Hiện nay, ngành nuôi trồng mang tính công nghiệp các loài lan lai, có cần hoa cao, bông hoa to, mầu sắc rực rỡ, mang lại nguồn thu nhập chủ yếu trong ngành nông nghiệp ở nhiều nước như: Thái Lan, Đài Loan, Singapore v.v…Nhưng nuôi trồng và thưởng ngoạn Địa lan Kiếm vẫn giữ vị trí độc tôn ở Trung Quốc. Các văn nhân, mặc khách phương Bắc đã coi Địa lan Kiếm như có “Tiên lực” thu hút tâm hồn con người. Rất dân dã, nhưng cũng rất cao sang… “Ai đã xem hoa lan nở, trên trái đất này sẽ không có cái gì đẹp nữa”…Nhiều sách vở viết về lan ở Trung Quốc, chủ yếu giới thiệu về các loài Địa lan Kiếm. Có sách không có một dòng chữ nói về các loại lan khác, kể cả các Phong Lan Kiếm (Epyphytic cymdibium).Người Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Hà Tây, Hưng Yên, Thái Bình v.v… cũng đã gìn giữ được nhiều loài Địa lan Kiếm quý giá như Thanh Ngọc, Hoàng Vũ, Cẩm Tố, Thanh Trường, Đại Mặc, Trần Mộng, Bạch Ngọc, Tứ Thời v.v…Cách thưởng ngoạn Địa lan Kiếm của các Sĩ phu Bắc Hà xưa và nay cũng khá giống nhau: Thư Thái! Ung dung! Để thấm dần dần: Hương dịu! Dáng thanh! Sắc nhã!Nhà thơ trẻ Trần Anh thuận đã thốt lên:

   “Yêu mình một, quý lan mười
Chỉ một lần ngắm, trọn đời ngẩn ngơ”.

Người ta sẽ cười những ai kê sát mũi vào bông lan và hít thật sâu! Thật mạnh! Thưởng thức hương lan thế vậy sao!

Cứ bình tĩnh, hương lan thường toả hương từng đợt. Nhà thơ Đinh Hạnh đã viết:

“Hương lan, người Ngọc hay lờ lững!
Chợt có rồi không! đến ngỡ ngàng”

Địa Lan Kiếm Trần Mộng được nhiều người ưa chuộng. Cánh đài, cánh hoa của loài lan này có màu hồng pha mầu cánh gián, khi hoa nở lại hơi uốn cong về phía sau, thật là duyên dáng! Hương thơm rất kỳ diệu. Ai có dịp thưởng thức hương thơm của loài lan này sẽ nhớ mãi mãi, khó quên lắm! Ngoài hai đặc tính đáng quý: hoa đẹp, hương thơm quyến rũ, Địa lan Kiếm Trần Mộng còn có các ưu thế sau: bông hoa khá to, chùm hoa có nhiều bông và cao tới 80cm, 90cm, vươn khỏi đám lá lục biếc. Mỗi năm lan có thể ra hoa được 2 vụ: Thu và cuối Đông.

Nhiều người trồng lan, thường muốn vụ lan nở đón xuân được tốt, nên đã huỷ những mầm hoa lan tháng 9.

Địa lan Kiếm Trần Mộng phân nhánh nhanh và dễ nuôi, nhưng có nhược điểm lá to, dài và giòn nên dễ gãy. Người ta không xếp các chậu lan Trần Mộng ở đầu hàng các chậu lan để tránh các luồng gió mạnh.

Tên loài Địa lan này cũng là một kỳ tích ly kỳ. Vua Trần Anh Tông (thế kỷ XIII) trong một đêm ngủ, mộng thấy được xem một loài Địa lan rất lạ, hoa màu đỏ hồng, rất đẹp và rất thơm. Khi Người tỉnh giấc, thấy tiếc quá, nhà vua ngẩn ngơ, bần thần. Kỳ lạ thay, trong ngày hôm đó, có người mang tiến vua một chậu lan như trong giấc mộng của nhà vua… thế là loài lan quý đó đã được mang tên giấc mộng của vua Trần.

Tuy vậy có nhiều người chơi lan lại gọi đây là lan Tần Mộng, cây lan trong giấc mộng của Tần Thuỷ Hoàng. Trung Quốc là nước đã phát hiện ra các loài Địa lan sớm nhất thế giới, từ thế kỷ V trước Công nguye6n, Tần Thuỷ Hoàng nổi danh trong thế kỷ III trước Công nguyên – Vậy tên đó có thể là hợp lý?

Nhưng nếu xét kỹ, tuy Trung Quốc đã ca ngợi lan từ thế kỷ V trước Công nguyên: dù trong núi thẳm rừng sâu mà vẫn cứ toả hương khoe sắc. Thời gian đó chưa thể nuôi trồng, thuần dưỡng lan được, vì lan có những tập tính riêng khác với muôn loài thực vật. Cho nên mãi các thế kỷ sau Công nguyên, nhất là đến thời kỳ nhà Đường, thế kỷ VII, VIII, ở Trung Quốc mới phát triển các vườn lan. Nổi tiếng nhất là Vương Hy Chi (tác giả của Thiếp Lan Đình) hay Đỗ Phủ (nhà thơ lừng danh của Trung Quốc) được coi là các bậc lan Vương.

Do vậy vua Tần chưa thể có giấc mộng về lan được. Chúng ta cũng nên nhìn nhận về tính cách của hai vị vua này. Tần Thuỷ Hoàng có tài năng phi thường, đã đánh tan được hết các nước chư hầu, thống nhất Trung Nguyên, góp phần quyết định xây dựng một công trình rất to lớn của nhân loại – Vạn lý Trường Thanh. Nhưng vị vua này cũng nổi tiếng về số cung nữ (3.000 người), đã chôn sống, giết nhiều danh nho, đốt cháy nhiều pho sách quý.

Địa lan trần mộng Sa pa

Địa lan trần mộng Sa pa

Vua Trần Anh Tông, thế kỷ XIII, là một trong các vị vua đầu tiên của nhà Trần – Các vị minh quân đầu đời của nhà Trần đã tổ chức hai hội nghị lịch sử: Hội nghị Bình Than của các tướng lĩnh; Hội nghị Diên Hồng của các đại diện trăm họ, nên đã đánh tan được ba cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông. Chính các vị minh quân này đã hội tụ được nhiều nhân tài kiệt xuất như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Lê Văn Hưu, Lê Phụ Trần,… và đã mở lại các khoa thi tuyển dụng nhân tài. Vua Trần Anh Tông kế tục các vị tiền bối chăm sóc vườn thượng uyển, hình thành “Ngũ Bách Lan Viên” (vườn 500 chậu lan) trên đồi Long Đỗ, Công viên Bách Thảo – Hà Nội.

Có điều kỳ lạ – Các giống Địa lan của rừng Việt Nam rất ít loài hoa Địa lan có mầu đỏ, mầu hồng.

Trong khi đó, trong các khu rừng ở Trung Quốc lại rất phong phú. Trong cuốn “Sắc Hoa Giám Thưởng” của Lưu Thanh Dũng, Lưu Dật Bình (NXB Kỹ thuật Phúc Kiến, in vào tháng 7/2003) có giới thiệu 74 loài Địa lan Kiếm có hoa mầu đỏ, màu hồng, nhưng lại không có hoa nào mang tên Tần Mộng.

Như vậy ta tin rằng, vua Trần Anh Tông, con người anh minh, giàu lòng nhân nghĩa, coi trọng văn hoá – luôn thấy vườn lan 500 chậu Địa lan Kiếm chỉ có mầu tím (Mặc lan), mầu lục (Thanh lan), mầu vàng (Hoàng lan), mầu trắng (Bạch lan) nên đã có mơ ước đêm ngày được có hoa lan màu hồng. Vậy loài hoa lan đó có tên là Trần Mộng có thể là đúng.

Nhà thơ Đinh Hạnh làm nhiều bài thơ về hoa lan, có bài về lan Tần Mộng, sau thấy việc thay đổi tên này này đúng hơn, nên đã nói lời: Tạ từ Tần Mộng

   Vua Tần mê mải chiến tranh
Giấc mơ trận mạc, đâu giành cho lan
Nhà Trần xây Bách Lan Viên
Tôn vinh Trần Mộng, sang tên cho nàng

Hà Nội vào thu!
Cây bàng lá đỏ

Chúng ta khó thấy con nai vàng ngơ ngác!
Nhưng tại các vườn lan, những chùm hoa đỏ hồng của Địa lan Kiếm Trần Mộng đang vươn lên cao, đón nhận những tia nắng vàng hổ phách và toả hương từng đợt, từng đợt, man mác.

Dương Xuân Trinh

CÁCH TRỒNG PHONG LAN HOÀNG THẢO


Nhiều người cho rằng những cây lan Việt khó nuôi “mỹ nhân mệnh đoản” Thực ra không phải như vậy. Nên nhớ rằng mỗi loài lan có một môi trường sinh sống khác nhau cho nên chúng ta không thể nuôi trồng lan Dendrobium y như Cattleya hay Cymbidium và nhất là chúng ta lại ở Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Canada v.v… khí hậu thời tiết đều khác hẳn với Việt Nam, vì vậy cần để ý những điểm sau.Dendrobium là một loài lan gồm trên 1500 giống mọc từ phía Tây Ấn độ tới Đông Nam Á, châu Úc và các hòn đảo tai Thái binh duơng. Theo các tài liệu chúng tôi đã sưu tầm đuợc, Việt Nam có khoảng trên 110 giống. Những giống này thường mọc ở trên các cao độ khác nhau cho nên cách trồng cũng chia ra làm 2 nhóm:• Rụng lá vào mùa Thu như Den anosmum (Phi điệp, Dã hạc) Den. aphyllum (hạc vĩ) Den. primulinum (Long Tu) Den. wardianum (Ngũ tinh) v.v… Nhóm này cần phải tưới bớt nước vào mùa Thu và tưới rất ít hoặc ngưng hẳn vào mùa Đông nếu ẩm độ trên 60%.

Den. anosmum
Den. anosmum
Ảnh: Trần ngọc Mạnh
Den aphyllum
Den aphyllum
Ảnh: Hà Khắc Hiếu
 Den. primulinum
Den. primulinum
Ảnh: Bùi xuân Đáng
Den. wardianum
Den. wardianum
Ảnh: Nguyễn thị Khuyên

Xanh lá quanh năm như: Den. amabile (thủy tiên tím) Den chrysanthum, (Phi điệp vàng) Den. lindleyi (Tiểu điệp) Den. chrysotoxum (Kim Diệp) v.v… Nhóm này mùa Đông tưới rất it, khoảng nửa tháng hay 1 tháng lần môt lần và chỉ tưới sơ qua và chỉ tưới khi nào rể hoàn toàn khô hẳn. Ở miền Nam California, ẩm độ xuống rất thấp nhất là lại mưa vào mùa Đông, cho nên cần giữ cho cây khô ráo.

Den. amabile
Den. amabile
Ảnh: Bùi xuân Đáng
Den chryanthum
Den chryanthum
Ảnh: Đinh văn Tuyến
 Den. lindleyi
Den. lindleyi
Ảnh: Phan kim Ngân

NHIỆT ĐỘ

Vào mùa hè nhiệt độ trung bình từ 80-90°F hay 26.7-32.2°C vào ban ngày và từ 65-70°F hay 18.3-21.1°C vào ban đêm tức là cần phải có nhiệt đô cách biêt giữa ngày và đêm từ 15-20°F hay 7-11°C. Mùa Đông ban đêm cần lạnh khoảng dưới 50°F hay 10°C mới ra hoa. Những giống rụng lá ưa lạnh hơn và những giống lá xanh quanh năm chịu nóng cao hơn.

ÁNH SÁNG

Lan cần nhiều ánh sáng, nếu thiếu ánh sáng lan sẽ không ra hoa. Những giống thuộc nhóm Den. nobile lại cần nhiều nắng hơn cả, lá phải ngả mầu vàng mới đủ nắng. Vào mùa Đông lan cần có nhiều ánh nắng ban ngày, vì ánh nắng làm cho cây ấm áp hơn là ở chỗ rợp mát.

ẨM ĐỘ

Lan cần ẩm độ khoảng 80% vào mùa hẻ và 60% vào mùa đông. Lan mọc trong rừng độ ẩm cao hơn ở nơi chúng ta ở vì nơi đây ít cây cối hơn ở trong rừng, cho nên cần phải tăng cường đô ẩm bằng cách tưới nước xuống dưới đất.

TƯỚI NƯỚC

Thông thường mùa mưa bắt đầu từ cuối Xuân cho đến đầu mùa Thu (Điều này trái nguợc hẳn với miền Nam California, chỉ mưa vào cuối mùa Đông và đầu Xuân). Và lúc này cây non bắt đầu mọc, nên tưới vừa phải tức là mỗi tuần một lần và tránh tưới vào ngọn cây lan vì nước đọng trong ngọn sẽ lam cho thối ngọn. Vào mùa Hè khi cây mọc manh hãy tưới cho thật nhiều và thật đẫm. Khi cây đã hết lớn tưới thưa đi và gần như ngưng hẳn vào mùa Đông.

BÓN PHÂN

Hòa ½ thìa cà phê hay 1 thìa gạt bằng cho 4 lít nước, bóng hằn tuần. Chỉ bón khi cây non mọc manh, nên nhớ tưới hôm trước hôm sau mới bón. Không nên bón phân khi cây quá khô, có thể bón trên lá, nhưng tránh bón phân trên ngọn mầm cây vừa mới nhú sẽ làm cho thối ngọn. Muốn cho lan thật tốt hãy bón phân 30-10-10 vào Xuân- Hè và đổi sang 10-30-20 vào mùa Thu, nếu tiếp tục bón bằng loại phân 30-10-10 có nhiều Nitrogene cây sẽ mọc Keiki thay vì ra hoa. Có người bón phân 10-30-20 với dung luợng 1 thìa cà phê cho 4 lít nước cho mùa Xuân-Hạ, tới mùa Thu đổi sang 0-50-0 và chấm dứt việc tưới nước, bón phân vào mùa Đông. Bón bằng phân chuồng nên bón thật loãng và không bón vào mùa Thu vì phân này nhiều chất đạm (Nitrogen)

VẬT LIỆU TRỒNG

Những cây nhỏ có thể buộc vào thân cây hay trên miếng vỏ cây nếu độ ẩm cao trên 60% và mùa hè phải tưới tối thiểu mỗi ngày một lần. Vật liệu trồng trong chậu dùng 1/3 vỏ thông, 1/3 đá, 1/3 than củi lớn từ 1-2 phân cho dễ thoát nước. Nên trồng trong chậu đất hay giỏ để tránh việc úng nước và giữ cho cây khỏi đổ. Chọn chậu thật nhỏ chỉ vừa đủ cho cây mọc trong 2 năm. Loài Dendrobium không ưa động đến rễ, cho nên chỉ thay chậu khi lan bị bệnh hay khi vật liệu trồng đã mục nát và thay chậu vào khi cây non mới mọc rễ.

THOÁNG GIÓ

Dendrobium là một loài Phong lan, vì vậy cần phải để ở nơi thoáng gió cây mới mọc mạnh và không bị bệnh.

THỜI GIAN NGỦ NGHỈ

Phần lớn những cây lan Hoàng thảo cần một thời gian ngủ nghỉ vào mùa đông, khi ban đêm nhiệt độ xuống còn khoảng 48-50°F hay là 9-10°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm khoảng 27-33°F hay 15-18°C. Vì vậy nên để lan ở chỗ có nắng. Thời gian này cần khoảng 2- 3 tháng để lan ra hoa. Lan có thể chịu được lạnh trên mức đông đá vài độ trong một thời gian ngắn với điều kiện thân rễ phải khô nhưng đừng để khô quá lâu. Vào cuối mùa Đông nên phun nước cho cây khỏi bị quá khô. Không phun nước vào những ngày âm u và quá lạnh.

Vào mùa Xuân, khi cây bắt đầu ra nụ hay mầm non, khởi sự việc tưới nước nhưng tưới thật thưa và phải đợi khô rễ giữa 2 lần tưới.

LƯU Ý

• Những giống thân rũ xuống như Den. anosmum, Den crystalinum, Den. wardianum v.v… không nên buộc thẳng lên, như vậy sẽ ít hoa hay không ra hoa.
• Nhóm rụng lá có thể ra hoa từ các thân già từ năm trước vì vậy không nên cắt bỏ.
• Mùa ra hoa tùy thuộc vào thời tiết nếu nóng sẽ nở hoa sớm và nếu lạnh sẽ chậm nở hoa.
• Thân cây lan già nếu cắt dài 10-15 và để trên rêu ẩm, từ các đốt có thể mọc ra cây con.

Placentia 3-2010
BÙI XUÂN ĐÁNG

Sưu tầm những bài thuốc từ hoa lan


Lan lô hội

Lan lô hội, Đoản kiếm lô hội – Cymbidium aloifolium (L.) Sw, thuộc họ Lan – Orchidaceae.
Mô tả: Phong lan hay địa lan thành bụi dày, giả hành nhỏ, hình trái xoan, bị che khuất bởi bẹ lá. Lá nhiều mọc đứng hình dải, tròn và có 2 thuỳ không đều ở chóp, dai, màu lục sậm, có bẹ vàng, dài 0,3-1m, rộng 1,5-5cm. Chùm thưa, dài đến 1-2m; hoa rộng 5cm, phiến hoa đỏ nâu, môi thắt vào giữa, trắng có đốm hồng, thuỳ giữa rộng, mép nhăn. Quả nang 4,5 x 3cm.
Hoa tháng 2-7, quả tháng 9.

Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Cymbidii Aloifolii.
Nơi sống và thu hái: Cây của á châu ở Xri Lanca, Ấn Ðộ, Nêpan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia và Việt Nam. Cây rất phổ biến ở vùng đồng bằng cho tới độ cao 800m từ Sơn La, Quảng Ninh, qua Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Tây Nguyên đến Tây Ninh, Kiên Giang, Côn Ðảo. Cũng thường được trồng làm cảnh.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Theo Poilane, cây được dùng để tắm cho trẻ em gầy yếu.
Ở Quảng Ninh (Tiên Yên) nhân dân dùng chữa cam trẻ em. Cũng được dùng làm thuốc điều hoà kinh nguyệt. Lá giã nhỏ, pha thêm rượu dùng đắp trong trường hợp gẫy chân tay trật khớp, sưng khớp, đau gân.
Ghi chú: ở Trung Quốc, người ta dùng toàn cây hoặc hạt một loài khác là Cymbidium pendulum (Roxb) Sw làm thuốc trị phổi nóng sinh ho, lao phổi, thổ huyết, viêm hầu họng, kinh nguyệt không đều, bạch đới, ngoại thương xuất huyết.

theo: VNPT – Chung tay vi Suc khoe cong dong – Phong benh hon Chua benh.

Thố nhĩ lan, Lục lan, Lan kiếm lá giáo – Cymbidium lancifolium Hook. f., thuộc họ Lan – Orchidaceae.
Mô tả: Địa lan cao 40-50cm; rễ to 4mm; giả hành đứng cao 6-10cm, mang xơ của bẹ và 3-4 lá, có cuống dài đến 10cm. Phiến lá hình bầu dục thon, dài 7-20cm, rộng 3-4 cm, gân 5, giữa là gân mảnh. Cụm hoa từ gốc giả hành, ngắn hơn lá, dài 10-30cm, mang 3-6 (-8) hoa; cuống và bầu dài 2,5cm, phiến hoa dài 3,5cm, màu lục tái; môi có rằn tím và tía; cột có cánh. Quả nang dài 5cm.
Hoa tháng 12.
Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Cymbidii Lancifolii.
Nơi sống và thu hái: Loài phân bố từ Nêpan ra phía đông tới Nhật Bản và về phía nam qua Inđônêxia tới Niu Ghinê. Ở nước ta, lan này mọc ở Sa pa (Lào cai), Tam Đảo (Vĩnh phú), Cúc Phương (Ninh bình) tới Konplong (Kon tum), Đà Lạt (Lâm đồng).
Tính vị, tác dụng: Có tác dụng nhuận phế, tục cân.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cũng được dùng làm thuốc trị ho, viêm nhánh khí quản, đòn ngã tổn thương.

theo: http://www.thaythuoccuaban.com/vithuoc/thonhilan.htm

Lan gấm đất cao
Lan gấm đất cao- Goodyera procera Ker Gawl.) Hook, thuộc họ Lan – Orchidaceae.

  • Mô tả: Ðịa lan cao đến 50cm, mang lá từ gốc lên đến giữa thân. Lá có phiến thon nhọn, dài 10-15cm. Cụm hoa gần như dạng bông hẹp, mang hoa xếp dày đặc, dài 2-4cm, lá đài giữa dính với cánh hoa làm thành mủ, môi dài 2mm, gốc có u, gần như 3 thuỳ, có lông mặt trong, bầu không lông, dài 4-5mm.
  • Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Goodyerae Procerae.
  • Nơi sống và thu hái: Loài phân bố từ Xri Lanca, Ấn Ðộ, Mianma, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin, Inđônêxia và các nước Ðông Dương. Ở nước ta, cây mọc rải rác trong các rừng ẩm thưa, nhiều mùn từ Bắc vào Nam từ vùng núi cao đến các vùng trung du, đồng bằng có gặp ở Lào Cai, Hà Giang qua Thừa Thiên – Huế tới Ninh Thuận.
  • Tính vị, tác dụng: Vị ngọt, nhạt, tính bình, có tác dụng khư phong trấn kinh, trừ ho chặn suyễn, tiêu thũng lợi niệu, khư phong thấp.
  • Công dụng, chỉ định và phối hợp: ở Trung Quốc, cây được dùng trị viêm khí quản, viêm nhánh khí quản, háo suyễn (hen khan) phong thấp đau xương tê liệt, viêm nhiễm đường niệu, đau dạ dày.

Lan giáng hương
Lan giáng hương, Giáng xuân – Aerides falcata Lindl thuộc họ Lan – Orchidaceae.

  • Mô tả: Lan bì sinh, không có hành giả, thân dài cao đến 15cm. Lá hình dải dài 25-30cm, rộng 2-4cm, chia 2 thuỳ không cân và thõng với một mũi nhọn ở giữa, dai, màu mốc ở trên, khía lục sẫm ở dưới. Cụm hoa thõng, cũng dài gần bằng lá; hoa rộng 2,5-4cm, thành chùm khá thưa, cánh hoa trắng với một đốm tía ở đầu, môi có 2 thuỳ bên tim, hình lưỡi liềm, thuỳ giữa tía to,
  • chẻ đôi, bìa mép mịn, móng dài 1cm. Quả nang dài 4cm. Ra hoa tháng 4-6, quả tháng 8-10.
  • Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Aeridis Falcatae.
  • Nơi sống và thu hái: Cây mọc phổ biến từ Bắc chí Nam, tập trung ở dọc dãy Trường Sơn, vùng Tây Nguyên (Kontum) Ðắc Lắc, Lâm Ðồng đến Ðồng Nai, Kiên Giang. Cũng được trồng nhiều ở Ðà Lạt vì có hoa đẹp và có hương thơm.
  • Công dụng, chỉ định và phối hợp: Theo Poilane, cây được dùng sắc nước cho trẻ em bị gầy yếu suy dinh dưỡng uống. Ở Campuchia, dùng làm thuốc hạ nhiệt. Lá hơ nóng ép cho ra nước, nhỏ vào tai chữa nhọt trong tai.

Lan hạc đính
Lan hạc đính- Phaius tankervillae (Banks ex L’Hér) Blunne, thuộc họ Lan- Orchidaceae.

  • Mô tả: Ðịa lan to, có củ. Lá như xếp dọc, màu lục nhạt. Chùm hoa đứng, cao 30-50cm, dẹp, lá bắc to, trắng mau rụng, hoa to, rộng 10cm, bầu và cuống dài 2-3cm, phiến hoa trắng mặt ngoài, nâu mặt trong, môi đỏ có sọc vàng và 2 sóng nhỏ, cột trắng.
  • Nơi sống và thu hái: Loài của Xri Lanca, Ấn Ðộ, Nêpan, Nam Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia, Bắc úc châu và quần đảo Tây Thái Bình Dương. Ở nước ta gặp mọc hoang ở Thừa Thiên-Huế, Kontum, Lâm Ðồng (Ðà Lạt), Ðồng Nai (Biên Hoà) ngoài ra cũng thường được trồng ở một số địa phương trên.
  • Tính vị, tác dụng: Vị hơi cay, tính ấm; có tác dụng thanh nhiệt trừ ho, trục đờm, hoạt huyết, chỉ huyết.
  • Công dụng, chỉ định và phối hợp: ở Trung Quốc, người ta dùng thân củ để trị ho có nhiều đờm, lạc huyết đòn ngã viêm tuyến vú, ngoại thương xuất huyết.
  • Lương y Lê Trần Ðức cho biết lá dùng làm thuốc tiêu mụn nhọt, lợi tiểu, sát trùng, trừ chất độc, chữa đau tức, lậu, bạch trọc.

Lan hài đốm
Lan hài đốm, Mỏ giày – Paphiopedilum concolor (Lindl.) Pfitz, thuộc họ Lan – Orchidaceae.

  • Mô tả: Ðịa lan mọc thành bụi, không có thân. Lá mọc so le, phiến thuôn dài, có vân trăng trắng, mặt dưới đo đỏ. Cuống cụm hoa ngắn (5cm) lá bắc ngắn hơn bầu; hoa vàng tươi có đốm đỏ, rộng 5-7cm, cánh hoa xoan rộng, có rìa lông đen; môi dài 4cm, nhị sinh sản 2, nhị lép vàng có đốm đỏ. Hoa nở vào mùa xuân.
  • Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Paphiopedili Concoloris.
  • Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở nước ta cây mọc nhiều trong các hốc trên núi đá vôi và có rải rác từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội vào tới thành phố Hồ Chí Minh. Cũng thường được trồng làm cảnh.
  • Tính vị, tác dụng: Vị đắng, chua, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt tán ứ, tiêu thũng giải độc.
  • Công dụng, chỉ định và phối hợp: ở Trung Quốc, người ta dùng cây trị rắn cắn, lở ghẻ, đòn ngã.

Lan kiếm
Ðoản kiếm nâu, Lan hoa, Hoa lan tàu, Đai giáp – Cymbidium ensifolium (L.) Sw, thuộc họ Lan- Orchidaceae.

  • Mô tả: Loài địa lan cao 50-90cm, mọc thành bụi dày, gốc dạng sợi, có rễ dày hình trụ. Lá 3-12 cái thì tiêu giảm thành bẹ nhọn, những cái khác có phiến hình dải, dài 60-75cm, rộng 8-15mm, có mũi ngắn, thon, hẹp dài thành một cuống rộng phình ra thành bẹ. Cán hoa dài 25-40cm có gốc, gần như dẹp, mang hoa ở 15-18cm, phía ngọn, hoa 4-8, màu vàng xanh có tâm nâu và chấm đỏ, phiến hoa hẹp, môi hình đàn vĩ cầm có bớt đỏ. Quả nang dài 4-6cm. Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Cymbidii Ensifolii.
  • Nơi sống và thu hái: Loài của Ðông Bắc Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaixia, Inđônêxia. Thường gặp trên các đụn mối vùng bình nguyên đến cao nguyên, từ Lao Cai, Hoà Bình đến Kontum, Lâm Ðồng.
  • Công dụng, chỉ định và phối hợp: Người ta thu hái hoa để nấu nước rửa mắt. Lá được sử dụng như thuốc lợi tiểu. Rễ được dùng phối hợp với các vị thuốc khác làm thuốc bổ phổi, trị ho.


Theo sách Y học cổ truyền Tuệ Tĩnh
 

Lan Bletilla striata
Đây là loài sống trên cạn, trên vùng cỏ đồi dốc, thường ở nơi có đất cát. Chúng trổ hoa muộn trong khoảng mùa xuân đến mùa hè. Hoa có màu từ tím nhạt đến tím đậm, với cánh hoa và đài hoa tương tự nhau, môi hoa có gợn sóng.

Có nhiều nơi trên thế giới đã nghiên cứu dùng lan này làm thuốc và cũng đã có sản phẩm được bán trên thị trường Trung Quốc (với tên thương hiệu là Baiji). Củ của chúng được dùng để trị bệnh lao, bệnh ho ra máu, dạ dày, và loét tá tràng, chảy máu, và nứt da ở chân tay. Ở Trung Quốc, Mongolia, Nhật Bản dùng củ của nó để điều trị mủ vết thương, phỏng, áp xe, u ác tính, loét và ung thư vú. Củ cũng được dùng như là thuốc làm dịu chứng viêm, thuốc long đờm. Lấy củ đem đun hoặc làm khô dùng trong điều trị chứng đầy hơi, bệnh lỵ, sốt, u ác tính, rối loạn dạ dày ruột, bệnh trĩ, cụm nhọt, sốt rét, các bệnh về mắt, bệnh ecpet mảng tròn, các khối u, và hoại tử, lao, nôn ra máu, bệnh bụi phổi, viêm, chảy máu trong,…Rễ của chúng được tán nhuyễn thành bột hòa với dầu được dùng như để làm thuốc cho các bệnh về da và bỏng. Sử dụng cả cây lan làm thuốc bổ và trị bệnh bạch đái, bệnh ho ra máu và ho có đòm. Lá được thu nhận vào mùa thu dùng để trị bệnh về phổi. Ở Việt nam, phần giả hành được dùng để trị bệnh lao, và những bệnh khác liên quan đến phổi, làm thuốc giảm đau do bỏng.
Lan Dendrobium Sw ( Shih-hu)
Shih-hu là thuật ngữ được dùng để diễn tả tất cả loài Dendrobium và vài loài Flickingeria ở Trung quốc. Ở Nhật Bản, dùng Dendrobium làm thuốc dễ tiêu. ở Hàn Quốc, những loài này dùng trong điều trị bệnh liệt dương. Loài lan được sư dụng phổ biến nhất là Dendrobium nobile Lindl. Đây là loài thuộc nhóm thực vật trên cạn phát triển ở điều kiện ấm như Ấn độ, Nepal, Bhutan, Myanamar, Thái lan, Lào, Việt Nam. Hoa có kích thước trung bình khoảng 7.5cm

Nó được dùng làm thuốc bổ và thuốc tăng lực, tăng tuổi thọ và kích thích tình dục. Thân của chúng được dùng để làm dịu cơn khát, làm giảm tình trạng căng thẳng, bồn chồn; ngoài ra nó còn dùng để dưỡng bệnh và làm giảm tình trạng khô môi. Ngoài ra, nó còn có đặc tính dùng làm thuốc dễ tiêu, chữa bệnh đau ngực, thuốc chống viêm, thuốc làm giảm đau, thuốc hạ sốt, bệnh thấp khớp.

Lan Gastrodia elate Blume
Chi Gastrodia R Br được phát hiện ở Madagascar, vùng nhiệt đới châu Á, Nhật Bản, Trung quốc và Liên xô củ, gồm có 20 loài. Loài lan này phát triển ở vùng cát mùn, hoặc ven rìa rừng vùng lá rộng, tùng bách hay hỗn tạp. Loài này ký sinh trên loài nấm Armillaria melea (Vahl) Quel.

Ở Trung Quốc, Củ của Gastrodia elate được dùng làm thực phẩm, nguyên liệu hay năng lượng. Còn rễ, than được dùng để trị bệnh đau đầu, chóng mặt, tình trạng tê cóng chân tay, liệt nửa người, chứng động kinh, chuột rút chân tay, sự co thắt, chứng đau nửa đầu, loại khí độc, bệnh thấp khớp, chóng mặt, chứng đau dây thần kinh, chứng đau lưng, sốt. Nó còn được dùng để gia tăng trí nhớ. Hiện có 2 sản phẩm được bày bán trên thị trường Trung Quốc bắt nguồn từ lan này là thuốc viên với tên thương hiệu là Tienma Mihuan Tablets, dung trong điều trị các bệnh thấp khớp, đau đầu, tê liệt tay chân và chóng mặt, cải thiện giấc ngủ và sức khỏe,…Sản phẩm thứ hai là thuốc viên bao nang Tian Ma Duo Zhong Wan (Gastrodiae Capsules) dùng để kích hoạt sự tuần hoàn máu, bệnh đau đầu, chóng mặt, đau cơ hay xương, cải thiện sức khỏe mà không gây tác dụng phụ nào.

Ở Hàn Quốc, củ được dùng dể trị những bệnh rối loạn thần kinh, ngăn ngừa cảm cúm và làm thuốc bổ. Ở Đài Loan, lan được dùng làm thuốc bổ trị hệ thần kinh và đau đầu.

Lan Dichaea Lindley
Giống này có khoảng 40 loài Dichaea ở vùng Tây ấn và nam Trung Mỹ nhiệt đới. Tất cả đều là thực vật biểu sinh.

Chúng được dùng để điều trị các bệnh nhiễm trùng mắt, viêm màng kết. Chẳng hạn như Dichaea muricata (Sw) Lindley.

Lan Oncidium Swartz
Có 50 loài thuộc chi này, dùng trong điều trị các vết thương, chẳng hạn như Oncidium pusillum.

Lan Masdevallia Ruiz et pavon
Có khoảng 350 loài của chi này, tất cả đều là biểu sinh, và phân bố từ Mexico đến Trung Mỹ và Brazil. Hầu hết, chúng tập trung vùng Ecuador và Peru. Lan này hiện diện ở những khu rừng ẩm ướt, lạnh, rừng che phủ.


Thân của loài Masdevallia sp. được dùng làm trà lợi tiểu cho phụ nữ mang thai và làm giảm viêm nhiễm ở bàng quang.

Lan Epidendrum Linnaeus:
Có khoảng 500 loài Epidendrum phân bố ở vùng đông nam nước Mỹ và vùng Caribean. Hầu hết chúng là loài biểu sinh, thuộc bộ Epidendreae, bộ phụ Laeliinae. Đã có hơn 50 loài đã được thuần dưỡng.



Chất nhày từ giả hành của Epidendrum sp. được dùng để điều trị các vết thương ở môi.

Lan Eriopsis Lindley:
Có khoảng 5 loài Eriopsis được tìm thấy ở miền Bắc Costa Rica đến Peru và Brazil, chúng thuộc phân lớp Epidendroideae, bộ phụ Eriopsis. Đặc điểm của chi này là có giả hành lớn hình trụ, màu đen mang 2-3 lá.



Thân của giống lan này được dùng để lấy dịch chiết chất nhày có tác dụng trong điều trị các vết thương ở răng lợi và màng nhày ở miệng.
Lan Phragmipedium Rolfe
Chủ yếu phân bố ở vùng nam mỹ nhiệt đới, Brazil; phát triển điều kiện ấm đến lạnh trong rừng cây che phủ, đất mùn. Loài Phragmipedium ecuadorense Garay được sử dụng như trà để làm dịu những rối loạn của dạ dày.

Lan Elleanthus Presl
Có 50 loài lan Elleanthus sp. phân bố vùng Tây ấn và nhiệt đới. Hoa của chúng được dùng làm hương liệu.

Mặc dù là Việt nam có lợi thế rất lớn về nguồn lan phong phú và đa dạng, tuy nhiên chúng vẫn còn chưa được chú ý về đặc tính dược lý của chúng, chúng chỉ được dùng chủ yếu cho mục đích trang trí. Một nguồn thảo dược vẫn còn chưa được khai thác và ứng dụng trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cho con người.

———————–

Hoa phong lan trị đầy hơi, chán ăn

Không chỉ đẹp, hoa phong lan còn là một vị thuốc quý, giúp cải thiện tình trạng chán ăn, đầy hơi hoặc người gầy mòn do khí huyết hư hao.

Hoa phong lan còn được Đông y dùng chữa chứng miệng, họng khô do thiếu tân dịch dẫn đến chán ăn, mắt mờ, xương khớp sưng đau, người háo, bứt rứt khó chịu, sốt nóng…

Trị chứng người gầy mòn, hư hao khí huyết: Lấy 6 gr hoa phong lan, 4 gr đỗ trọng, 4 gr đẳng sâm, 4 gr mạch môn đông, 4 gr câu kỷ tử, 4 gr ngũ vị tử, 4 gr ngưu tất, 4 gr trích cam thảo. Tất cả các vị trên rửa sạch, cho vào ấm, đổ 300 ml sắc kỹ, còn 200 ml chia làm ba lần uống trong ngày.

Trị chứng đầy hơi, chán ăn, ho, sốt: Lấy 6 gr hoa phong lan, 4 gr trần bì (vỏ quýt), 4 gr mạch môn, 4 gr tỳ bà diệp. Các vị trên rửa sạch, cho vào ấm đổ 300 ml nước, sắc kỹ còn 200 ml chia uống làm ba lần. Uống hết trong ngày.

Theo BS Nguyễn Thị Nhân
Báo Đất Việt

Kỹ thuật chăm sóc – Lan Vanda Sapa


Phong lan Vanda Sapa

Lan Vanda là một loại phong lan có nhiều màu sắc sặc sỡ, xuất xứ từ vùng Châu Á Thái Bình Dương. Lan Vanda được chia thành 3 loại: loại lá dẹp (strap-shaped leaves), loại lá tròn (cylindrical or terete leaves), và loại lá nửa tròn nửa dẹp (semi-terete leaves). Lan Vanda rất đẹp, hình dáng vừa tròn lại vừa dày nên được rất nhiều người ưa thích trồng. Hoa Lan Vanda thường tươi lâu từ 4 đến 8 tuần, tuỳ theo khí hậu và giống. Có vài loại Lan Vanda tỏa mùi thơm như Vanda amesiana, V. denisonianum, V. cristata và V. dearei. Có loại có vân như Vanda coerulea hoặc đốm như V. tricolor hay V. sanderiana. Lan Vanda có thể ra hoa 2 hoặc 3 lần trong một năm nếu được chăm bón đủ điều kiện.

Trồng Lan Vanda không khó, nếu ta trồng đúng cách và tạo đủ điều kiện thích hợp cho cây phát triển thì cây sẽ sống lâu và ra hoa thường xuyên.

Độ ẩm: Cây Lan Vanda thích ở độ ẩm ban ngày vào khoảng 60% đến 70%, và ban đêm là khoảng 90% đến 95% thì cây sẽ phát triển nhanh. Nếu thiếu độ ẩm cây sẽ mau khô ở rễ và dẫn đến héo lá. Cây sẽ khó ra hoa nếu thiếu độ ẩm hoặc thiếu nước.

Tưới nước: Cây Lan Vanda rất thích nước. Vào mùa hè thì cây phát triển rất nhanh nên cần nhiều nước. Ta có thể tưới nước mỗi ngày và 2 lần một ngày mà không sợ bị thối rễ nếu cây được trồng trong rổ không có nguyên liệu. Vào mùa đông bớt tưới nước lại, chỉ cần 2 lần trong 1 tuần là đủ. Khi thấy lá nhăn và mềm tức là cây đang bị thiếu nước trầm trọng, chúng ta cần tưới nhiều hơn. Thiếu nước cũng là nguyên nhân khiến Lan Vanda khó có thể ra hoa.

Bón phân: Vào mùa Đông bớt bón phân hoặc chỉ cần tưới nước là đủ. Vào mùa Xuân thì ta nên bón phân nhiều hơn để kích thích cây phát triển và ra hoa. Khi ra hoa thì tiếp tục bón phân vì Lan Vanda tiêu thụ rất nhiều phân bón để nuôi lá và hoa. Cây Lan Vanda giống như Lan Hoàng Hậu (Cattleya) và Lan Đất (Cymbidium) rất thích phân có nhiều chất nitro vì chịu nhiều ánh sáng. Thường thì ta có thể dùng ½ muỗng café phân bón (20-20-20) hoà tan vào 1 gallon nước để tưới cây. Loại phân này có thể dùng được quanh năm. Khi nào thấy rễ bị cháy tức là quá nhiều phân bón nên dừng lại một thời gian và chỉ tưới nước thôi là đủ. Chúng ta sẽ tưới phân lại khoảng 2 tuần sau đó.

Ánh sáng: Cây Lan Vanda thích nhiều ánh sáng hơn loại cây Lan Hoàng Hậu nhưng không sống trực tiếp dưới ánh sáng như ở Nam California, vì sẽ dễ bị cháy lá. Khi thấy lá cây đổi màu vàng tức là nhiều ánh sáng quá. Nếu lá cây xanh đậm tức là thiếu ánh sáng, có thể sẽ không ra hoa được. Chúng ta có thể trồng Lan Vanda ngoài sân và sử dụng lưới 50%-55% để lọc bớt ánh sáng. Loại lá tròn thì cần nhiều ánh sáng hơn loại lá dẹp.

Nhiệt độ: Cây Lan Vanda thích ở nhiệt độ ban đêm từ 50-60°F, ban ngày từ 70-90°F. Ở nhiệt độ cao chúng ta có thể tưới cây thường xuyên hơn như 2 hoặc 3 lần trong 1 ngày. Ở nhiệt độ thấp thì phải cẩn thận khi tưới nước, vì nếu tưới nước nhiều mà lạnh thì cây dễ bị nấm và rụng lá ở dưới gốc đi lên, như hình cây dừa.

Thay chậu: Cây Lan Vanda có thể trồng trong chậu có than và đá, hoặc trồng trong rổ không có vật liệu trồng cây thì không cần phải thay chậu thường xuyên, khoảng 4 đến 5 năm mới cần thay. Còn nếu trồng trong chậu có vỏ dừa hoặc vỏ cây thì nên thay chậu mới 2 năm/lần. Chúng ta có thể dùng vỏ dừa hoặc vỏ cây ngâm với thuốc sát trùng và phân bón từ 2 đến 5 ngày để rửa sạch chất muối ở trong vỏ dừa trước khi trồng. Chúng ta dùng ½ muỗng café thuốc Physan 20 (thuốc sát trùng), 1 muỗng canh vitamin B1 (thuốc kích thích rễ), 1 muỗng canh café phân bón (20-20-20) vào 1 gallon nước để ngâm vật dụng trồng. Sau khi trồng thì 1 đến 2 tuần sau hãy tưới nước trở lại, tuỳ theo khí hậu thời tiết vì phải để cho rễ cây khô và phục hồi trở lại.

Chuyển động và thoáng khí: Cây Vanda thuộc loại phong lan vì vậy rất cần thoáng khí và sự rung chuyển để cho cây được tươi tốt hơn. Theo kinh nghiệm của tôi cho thấy thì cây để ngoài vườn có gió nhiều liên tục sẽ mọc tốt hơn là trong nhà kính ít gió.

Đây chỉ là những phương cách căn bản để trồng cây Lan Vanda sao cho thích hợp cho việc sinh tồn và ra hoa. Theo những phương pháp trên, hy vọng rằng các bạn sẽ thành công trong việc trồng loại phong lan này. Để hoàn hảo hơn, chúng ta còn phải học hỏi tuỳ theo thời tiết, khí hậu, nơi trồng và nguồn nước tưới ở mỗi nơi đều khác nhau. Chúng ta cần phải thay đổi sao cho thích hợp khi cây có những dấu hiệu tốt hoặc xấu, và từ đó chúng ta rút ra được kinh nghiệm và cách trồng thích hợp nhất cho chính mình. Đó chính là cách trồng hoa lan tốt nhất. Tôi xin chúc cho các bạn thành công mỹ mãn và cây hoa lan của các bạn sẽ sống lâu và cho hoa đẹp.

9-5-2008
Ngô Long
hoacaycanhsapa.wordpress.com

Phong lan thuỷ tiên mỡ gà Sapa


Tác giả: Trần Quốc Trường – Hội lan Thái Bình

Thủy tiên mỡ gà (Dendrobium densiflorum )
Cây này khá dễ để nhận ra với thân cây dài. hình vuông với các cạnh chuốt tròn chứ không sắc cạnh như farmeri, vuông đều từ gốc đến ngọn. Bản lá to, rộng, hơi mỏng so với kích thước lá.
Cánh hoa vàng, lưỡi vàng, toàn bộ chùm hoa ánh lên sắc vàng rực rỡ, là một loại đáng để sưu tầm.
Cây ưa ẩm, ưa mát, ánh sáng vừa phải 60-80%. Tránh để nắng trực tiếp dễ gây cháy lá.

LAN CĂN ĐIỆP VÀNG


Chiloschista parishii Seidenf

Họ: Phong lan Orchidaceae

Bộ: Phong lan Orchidales

Mô tả:

Lan sống phụ sinh, không lá, rễ dẹp, dài. Quang hợp bằng các chất diệp lục có ở trên rễ phụ sinh. Thân buông xuống 10 – 20cm. Cụm hoa phân nhánh. Hoa màu vàng với các đốm nâu.

Phân bố:

Cây mọc ở Sapa- lào cai, Đà Lạt và phân bố ở Ấn Độ, Nêpal, Mianma, Thái Lan.

 Tài liệu dẫn: Phong lan Việt Nam – Trần Hợp – trang 59

CHĂM SÓC LAN ĐUÔI CHỒN-NGỌC ĐIỂM


Ngọc Điểm – Rhynchostylis (rink-oh-STY-lis) viết tắt Rhy.

Trong chuyến viếng thăm Java vào khoảng cuối thập niên 1800, Carl Blume một nhà thảo mộc học người Đức lai Hòa lan đã tìm thấy loài lan đẹp đẽ này. Thoạt tiên cây lan được xếp vào loài Sacolabium và sau đó chuyển sang Rhynchostylis. Tên này dùng theo tiếng La tinh gồm 2 chữ: Rhynchos = beak = mỏ và chữ stylos = pillar = cột trụ để tả theo hình dáng của trụ hoa.

Rhynchostylis là một loài lan gồm có 4 giống: Rhynchostylis coelestis, Rhynchostylis gigantea, Rhynchostylis retusa mọc khắp Đông Nam Á châu từ Lào, Việt Nam, Cao Miên Thái lan, Mã lai v.v… riêng giống Rhynchostylis violacea chỉ mọc ở Phi luật tân. Mặc dầu ngôn ngữ khác nhau, nhưng dân chúng mọi xứ đều chung một ý nghĩ gọi là lan đuôi cáo (fox tail orchid).

1. Rhynchostylis gigantea thường được gọi là lan đuôi chồn, lan me (vì thường mọc trên cây me tại Saigon). Văn vẻ hơn gọi là Ngọc điểm vì hoa mầu trắng hồng có những chấm tím đỏ, hay Ngọc điểm đai châu = chuỗi hạt châu mà người bình dân gọi trại ra là tai trâu. Cây lan này lá lớn, chùm hoa cong và dài chừng 20 phân, hoa to ngang chừng 3 phân, thơm ngát và có khi cả tháng mới tàn, hơn nữa lại nở vào mùa Xuân cho nên có thêm tên goi là Nghinh Xuân. Giống lan này mọc suốt từ Nam chí Bắc cho nên chúng ta thường thấy ở khắp nơi trên đất Việt.Hiện nay giống lan này có 4 mầu: hồng chấm tím, trắng tuyền, đỏ thẩm và đỏ khoang trắng.Hai mầu sau dược nhập cảng từ Thái lan.

2. Rhynchostylis retusa hay Ngọc điểm đuôi cáo, có lẽ nên gọi là “Ngọc điểm vỹ hồ” cho thanh lịch hơn. Cây lan này lá nhỏ, cứng hơn và dài hơn lá cây Ngọc điểm đai châu, hoa nhỏ hơn, chỉ chừng 2 phân, chùm hoa buông thõng xuống nhưng dài có khi đến 60 cm. Giống lan này thường mọc trên cao độ 1500 m, cho nên chỉ thấy ỏ Yên Bái, Hòa Binh và cao nguyên Lâm đồng, Đà lạt hay Kontum, Pleiku.

3. Rhynchostylis coelestis: Ngọc điểm hải âu. Chùm hoa lên thẳng dài chừng 20 cm, hoa nhỏ chừng 2 cm, mầu xanh dương khác hẳn hai giống hoa kể trên. Cây lan này chỉ mọc ở Lâm Đồng, Đà lạt.

4. Rhynchostylis violacea rất dễ nhầm lẫn với Rhynchostylis retusa. Sự khác biệt duy nhất là cánh hoa Rhy. vilacea tuyền một mầu tím nhạt còn Rhy. retusa có những chấm.

CÁCH TRỒNG

Cách trồng Rhynchotylis cũng gần giống như Aerides, Arachnis, Ascocentrum, Renanthera hay Vanda.

ÁNH SÁNG
Lan chỉ cần ánh sáng cao hơn Cattleya một chút, chứ không cần nhiều ánh nắng như Vanda nghĩa là khoảng 60-70% là đủ.

NHIỆT ĐỘ
Lan ưa nhiệt độ từ 60-90°F tức là 15.5-32.2°C. Lan có thể chịu nóng tới 100°F hay 37.8°C được nhưng cần tăng gió và độ ẩm. Đừng để lan chịu lạnh dưới 50°F tức là 10°C

ĐỘ ẨM
Lan ưa ẩm độ cao từ 50-60% trở lên, nếu ẩm độ quá thấp, cây sẽ còi cọc không lớn được.

TƯỚI NƯỚC BÓN PHÂN
Vào mùa hè cần tưới và bón nhiều khi thấy đầu rễ bắt đầu mọc ra, nhưng không cần bón phân nhiều như Vanda. Pha 1/4 hay 1/2 thìa cà phê phân 20-20-20 vào 4 lít nước bón quanh năm hay 30-10-10 vào mùa xuân và hè rồi đổi sang 10-30-20 vào mùa thu. Bớt tưới , bón phân vào mùa đông nhất là vào thời kỳ nghỉ ngơi.Sau khi hoa tàn và lan cần phải có một thời kỳ khô và lạnh (rest period), nếu tưới nhiều cây sẽ không ra hoa.

THAY CHẬU
Nếu trồng trong chậu, cần phải thay chậu khi vỏ cây đã mục. Vỏ cây hay than phải là thứ lớn khoảng 3-4 cm, trồng trong chậu đất tốt hơn là chậu nhựa. Nếu rễ quá dài, ngâm cây vào nước chừng 1 giờ cho rễ mềm ra. Bỏ cây vào trong chậu rồi xoay vòng tròn, rễ cây sẽ quấn quanh theo lòng chậu sau đó sẽ bỏ than hay vỏ cây vào.

Nếu buộc vào khúc cây hay trồng trong giỏ gỗ không cần phải thay giỏ hay khúc cây. Trồng cách này không sợ thối rễ nhưng phải tưới thường xuyên hơn, vào mùa hè phải tưới hàng ngày. Do đó mỗi tháng một lần nên ngâm vào nước có pha Epson salt (1 thìa súp một gallon nước) để xả hết chất muối đọng và cho nước ngấm vào trong khúc cây.
Khi mua về, nếu là trơ rễ (bare root) nên ngâm vào nước với công thức:

• 1 thìa súp đường.
• 1 thìa cà phê phân bón 30-10-10.
• 10 giọt superthrive hay 1 viên thuốc ngừa thai.
• 2 gallon nước (8 lít).

Khuấy cho đều, ngâm cây trong 4 giờ, lấy ra để cho ráo nước. Ngâm 4 giờ nữa rồi để khô qua đêm. Ngày hôm sau sẽ tái tục trong một tuần lễ, cây sẽ không bị khô kiệt (dehydrated) và mau mọc rễ

http://www.hoalanvietnam.org/article-print.asp?url=/Article.asp&ID=250

——————-

Lan đuôi chồn Sapa

Lan đuôi chồn Sapa